Ký ức về DK 1

Lịch sử Việt Nam đã ghi lại những mốc son, những ngày tháng mà cả dân tộc như cùng một tấm lòng đoàn kết, sục sôi trong ý chí bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Những ngày tháng 5 tháng 6 rực lửa, cờ đỏ sao vàng tung bay khắp các đô thị Bắc Trung Nam, kiều bào Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới cũng xuống đường tuần hành phản đối Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng lãnh hải thềm lục địa Việt Nam, gần khu vực Quần đảo Hoàng Sa.

Nhiệm vụ trọng đại

 

Những ký ức còn in đậm trong tâm trí các cán bộ, công nhân viên Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro (VSP) về biển đảo và khí thế hào hùng của những ngày xây dựng các Công trình DK1 đầu tiên, cắm mốc chủ quyền tại Quần đảo Trường Sa bỗng lại ùa về sống động như chỉ mới hôm qua.

 

Kể từ năm 1981 đến 1988, VSP, đơn vị Liên doanh với Liên bang Nga (Liên Xô trước đây) về thăm dò và khai thác dầu khí ngoài thềm lục địa Việt Nam đã xây dựng được nhiều công trình giàn khoan dầu khí quy mô lớn ngoài mỏ Bạch Hổ như các giàn MSP1, BK2, MSP 3, 4, 5, 6, CPP2... Vietsovpetro là đơn vị đầu tiên tại miền Nam có cơ sở vật chất kỹ thuật có thể xây dựng các giàn khoan dầu khí lớn ngoài biển tới độ sâu 100m nước. Xác định thềm lục địa Việt Nam có nhiều tiềm năng về dầu khí. Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt thực hiện các công tác tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí tại các vùng biển thềm lục địa Việt Nam, đồng thời phối hợp với các đơn vị Hải quân và Bộ đội Biên phòng bảo vệ chủ quyền biển đảo tại các khu vực này.

 

Ký ức về DK 1

Công trình DK1 đầu tiên xây dựng năm 1989

 

Vào tháng 12-1988, chúng tôi được Phó tổng giám đốc VSP Ngô Thường San gọi lên văn phòng, trong phòng khách có một người mặc quân phục mang hàm Thượng tướng và một người mang quân hàm Thiếu tướng. Ðó là đồng chí Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam Ðào Ðình Luyện và Thiếu tướng Nguyễn Bình, Chính ủy Bộ Tư lệnh Công binh. Cùng tiếp đoàn còn có ông Lê Quang Trung, Bí thư Ðảng ủy và ông Ðặng Minh Hồng, Chánh văn phòng VSP. Chúng tôi rất bàng hoàng xúc động khi được nghe câu chuyện đồng chí Ðào Ðình Luyện kể về tinh thần chiến đấu hết sức dũng cảm ngoan cường và sự hy sinh anh dũng của cán bộ, chiến sĩ Hải quân các tàu HQ 505 và HQ 604 trên các đảo Gạc Ma, Colin và Len Ðao gần đảo Sinh Tồn thuộc Quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

 

Vào ngày 14-3-1988, 3 tàu chiến lớn của Trung Quốc đến chiếm các đảo này, ban đầu chúng chủ động đâm va nhằm tiến vào lấn chiếm đảo, vấp phải sự truy cản của các chiến sĩ Hải quân kiên định bảo vệ chủ quyền biển đảo, chúng đã điên cuồng nã đạn vào các tàu HQ 604, HQ 605 và HQ 505 nhưng các chiến sĩ Hải quân không hề lùi bước. Chủ quyền các đảo Colin, Len Ðao được giữ vững, quân Trung Quốc đã chiếm đảo Gạc Ma, bắn chìm các tàu HQ 604, bắn hỏng hoàn toàn tàu HQ 505 và 64 chiến sĩ Hải quân nhân dân đã anh dũng hy sinh.

 

Ngày 5-7-1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra Chỉ thị số 180UT về việc xây dựng cụm dịch vụ kinh tế - khoa học - kỹ thuật thuộc Ðặc khu Vũng Tàu - Côn Ðảo, nhằm nghiên cứu điều kiện hải văn, đồng thời xác định chủ quyền Việt Nam đối với khu vực thềm lục địa gần khu vực Quần đảo Trường Sa.

 

Sau cuộc gặp với Thứ trưởng Ðào Ðình Luyện, chúng tôi ý thức được nhiệm vụ quan trọng là VSP phải phối hợp với Bộ Tư lệnh Công binh, thực hiện việc xây dựng các giàn DK1 trên những bãi ngầm san hô thuộc Quần đảo Trường Sa để khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo này. Ðồng chí Ðào Ðình Luyện cũng cho biết, hiện Bộ Quốc phòng không có ngân sách và ngoại tệ để mua sắt thép, cũng như kinh phí cho việc thi công các công trình này.

 

Ðể xây dựng 2 công trình này, đồng chí San đã đặt vấn đề với phía Nga xin được sử dụng các ống chống khoan bằng thép đường kính lớn và các đoạn chân đế giàn khoan có sẵn, còn thừa trong kho vật tư; sử dụng tàu cẩu NPK với 2 tàu dịch vụ Sao Mai 01 và Phú Quý trong thời gian 10 ngày để thi công công trình. Ðề nghị này được phía Nga trong Vietsovpetro đồng tình.

 

Tháng 2-1989, VSP thành lập Ban Dự án DK1 gồm các thành viên bộ máy điều hành và các đơn vị trực thuộc, ông Ngô Thường San, Phó tổng giám đốc được cử làm Trưởng ban chỉ đạo; ông Lê Quang Trung, Bí thư Ðảng ủy, Phó ban chỉ đạo; ông Trần Sỹ Phiệt, Trưởng phòng Viện NIPI, Phó ban điều phối; ông Nguyễn Trọng Nhưng, Phó giám đốc Cục Xây lắp, Phó ban chỉ đạo, phụ trách thi công; ông Ðặng Hữu Quý, Phó chánh kỹ sư Viện NIPI, Chủ nhiệm thiết kế công trình; ông Lâm Quang Chiến, Trưởng phòng Viện NIPI, Trưởng ban khảo sát; ông Trần Thanh Quang, Trưởng phòng Cục Xây lắp, Phó ban thi công ngoài biển và ông Nguyễn Văn Thạc, Phó giám đốc Cục Vận tải Biển làm Phó ban tàu thuyền thi công ngoài biển.

 

Chuẩn bị chu đáo

 

Khu vực thềm lục địa Việt Nam (kể cả các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa) là vùng biển chịu nhiều ảnh hưởng của các cơn bão lớn. Hằng năm, từ tháng 6 đến tháng 2 liên tục có các cơn bão với sức gió mạnh nhất lên tới 160km/h, sóng biển cao 9-10m, khu vực các bãi đá ngầm có mực nước 7-25m, chủ yếu là đá san hô có độ rỗng lớn, giòn dễ vỡ, khả năng gắn kết vật liệu thấp. Dòng chảy khu vực các bãi ngầm rất mạnh, nhiều luồng phức tạp nên việc xây dựng các nhà giàn gặp rất nhiều khó khăn, ngay từ khâu thiết kế phương án kết cấu móng công trình. Công tác xây dựng ngoài Trường Sa cũng rất khó khăn do vào các khoảng thời gian biển tốt tàu Trung Quốc có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, đây là tình huống nguy hiểm, có thể dẫn đến mất an toàn sinh mạng cho người và thiệt hại lớn về tài sản do tàu thuyền xây lắp là những tàu đặc chủng có giá trị hàng trăm triệu đôla.

 

Bãi ngầm Tư Chính nằm ở khoảng từ 07029’03’’ đến 07033’20’’ Vĩ Bắc, 109037’30’’đến 109054’58’’ Kinh Ðông, nằm kề các lô dầu khí 133-136 và 155-158 trong khu vực Bể Tư Chính - Vũng Mây thuộc Quần đảo Trường Sa, cách Vũng Tàu khoảng 230 hải lý về phía đông nam. Bãi ngầm Tư Chính có vị trí rất quan trọng trong xây dựng, phát triển kinh tế biển và công tác quản lý chủ quyền vùng biển trên khu vực Trường Sa. Phạm vi bãi ngầm ở trong khoảng độ sâu 14m đến độ sâu 200m dài khoảng 50km, chiều rộng nơi rộng nhất khoảng 13km, hình lưỡi liềm phát triển dài theo hướng Ðông Bắc - Tây Nam. Các khu vực lân cận có mực nước rất sâu khoảng 500-1.500m.

 

Với kinh nghiệm thiết kế và xây lắp các giàn khoan dầu khí tại vùng mỏ Bạch Hổ ở độ sâu nước biển 50m, Vietsovpetro đã nhận đảm nhiệm xây dựng 2 nhà giàn DK1 đầu tiên trên bãi cạn Tư Chính là nhà giàn Tư Chính A (Tư Chính 1, hay còn gọi là DK1 - Tư Chính A) và nhà giàn Tư Chính B (Tư Chính 2, hay còn gọi là DK1 - Tư Chính B).

 

Với yêu cầu cấp bách là nhà giàn DK1-A và DK1-B tại Tư Chính cần phải hoàn thành trong năm 1989, đồng thời cùng với 2 nhà giàn do Bộ Giao thông Vận tải xây dựng trên các bãi cạn Phúc Tần và Ba Kè là DK1-3 và DK1-4.

 

Ðây là 4 nhà giàn DK1 đầu tiên trên Biển Ðông thuộc Quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Ý thức được vai trò rất quan trọng của các nhà giàn, để đảm bảo tính bền vững trước các cơn bão lớn, công tác xử lý nền móng được đặt lên hàng đầu. Ban Tổng giám đốc đã cùng các phòng trong bộ máy điều hành và các kỹ sư thiết kế của Viện Nghiên cứu Khoa học và Thiết kế của Vietsovpetro - NIPI, trên cơ sở các bản đồ hàng hải và mặt bằng khu vực Tư Chính, tìm và xác định vị trí thích hợp cho công tác khảo sát sơ bộ khu vực dự kiến xây dựng các nhà giàn.

 

Vietsovpetro đã điều tàu Phú Quý tiếp cận Bãi Tư Chính, đo đạc sơ bộ địa hình, bình đồ đáy biển khu vực các bãi ngầm, dựa trên cơ sở hướng bão, thủy triều và dòng chảy, phác thảo, tính toán nhiều mô hình kết cấu nhà giàn sử dụng cọc thép, mô hình cọc thép kết hợp trọng lực hoặc có dây neo liên hoàn nhằm hoàn thiện các kết cấu cùng các biện pháp thi công ngoài biển với mục tiêu tiến độ phải nhanh, bí mật, đảm bảo chất lượng và an toàn công trình.

 

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu trên, Vietsovpetro đã kiến nghị thực hiện xây dựng 2 nhà giàn theo 2 giai đoạn: Giai đoạn 1, xây nhà giàn Tư Chính DK1-A, đồng thời thực hiện khảo sát kỹ thuật khu bãi ngầm Tư Chính bao gồm đo đạc các thông số khí tượng hải văn và khoan địa chất công trình phục vụ xây dựng nhà giàn Tư Chính số 2 - DK1-B. Giai đoạn 2, hiệu chỉnh thiết kế nền móng và hoàn thành xây dựng nhà giàn Tư Chính 2 (Tư Chính B) ngay trong năm 1989.

 

Lãnh đạo Vietsovpetro đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng nhà giàn DK1, tuy rất bận công việc, nhưng anh San, anh Trung đã triệu tập nhiều cuộc họp kín bất thường, bàn về phương án thiết kế và các giải pháp khi gặp tình huống nguy cấp.

 

Do Vietsovpetro là Liên doanh hai Nhà nước Việt - Nga (Liên Xô) nên thuyền trưởng các tàu NPK-547, Sao Mai 01 và các máy trưởng là người Nga, có nên thông báo cho họ về mục đích thực của chuyến đi biển này hay không?! Ông Ngô Thường San, Phó tổng giám đốc đã kịp thời trao đổi với ông Tổng giám đốc Vovk và đạt được nhất trí là chỉ cần thông báo sự thật với Thuyền trưởng NPK-547 là ông Larionov Stepanovic với các phương án xử lý cụ thể như: Chuẩn bị bổ sung 10 xuồng cứu sinh cho tàu NPK-547, bố trí đầy đủ 100% phao cứu sinh cho các cán bộ chỉ huy và công nhân xây lắp, bộ đội Hải quân trên tàu, đề phòng các tình huống. Cả 3 tàu đều kéo cờ đỏ sao vàng Việt Nam khi thực hiện công tác xây dựng các nhà giàn DK1 ngoài Tư Chính. Trong trường hợp xuất hiện các tàu Trung Quốc, nếu chúng đến gần và có các hành động khiêu khích ta sẽ kéo thêm cờ Nga trên tàu NPK-547 và phát loa phóng thanh tuyên truyền. Bên cạnh đó, giao cho Ban Ðiều độ, anh Phan Phúc, anh Bích và anh Cường giữ liên lạc 24/24 với chỉ huy tàu NPK-547. Ông San hằng ngày vào lúc 16h trực tiếp nghe báo cáo từ Ban Chỉ huy trên tàu NPK và trực tiếp chỉ đạo khi gặp các tình huống khẩn cấp.

 

Xuất quân chiến thắng

 

Sau khi nghiên cứu dự báo thời tiết khu vực biển Trường Sa, nhận thấy để có được thời gian biển tương đối tốt khoảng 10 ngày thi công, chúng tôi đã quyết định kịp thời xuất quân trong thời tiết sóng gió để sau 3 ngày bắt kịp cửa sổ thời tiết thích hợp tại Trường Sa. 10h ngày 15-6-1989, Ðoàn công tác xây dựng nhà giàn DK1 của Vietsovpetro khởi hành bao gồm 3 tàu NPK-547, Sao Mai 01 và tàu kéo Phú Quý, các chỉ huy tàu, chỉ huy thiết kế, khảo sát, thi công với 55 thành viên thủy thủ đoàn của 3 tàu và đội công nhân xây lắp.

 

Trong đó, ông Nguyễn Trọng Nhưng làm Trưởng đoàn, Chỉ huy trưởng; ông Ðặng Hữu Quý và ông Larionov, Phó chỉ huy trưởng; ông Trần Thanh Quang phụ trách thi công, ông Lâm Quang Chiến - Chỉ huy khảo sát. Nhà giàn DK1 với 4 ống trụ bằng thép cao 35m được chế tạo sẵn trên bờ, lắp thành 3 khối trên mặt boong tàu NPK.

 

Ðể giữ bí mật chuyến đi, buổi lễ tiễn Ðoàn không ồn ào, nhưng không kém phần long trọng và trang nghiêm. Hôm đó trời có mưa và gió, chúng tôi lưu luyến và bịn rịn như tiễn những người thân mình ra trận và luôn chúc nhau thành công, chờ thắng lợi. Chúng tôi cũng không quên dành một phút mặc niệm để tưởng nhớ tới các liệt sĩ đã anh dũng hy sinh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng nơi biển đảo. Ra đi trong mưa bão nên ngay chiều và đêm đó chúng tôi phải bổ sung chằng buộc công trình trên mặt sàn tàu, nhiều công nhân xây lắp say sóng không thể ăn cơm chỉ ăn được cháo.

 

Ký ức về DK 1

Chăm sóc rau trên nhà giàn DK1

 

Sau 3 ngày đêm, vào khoảng 16 giờ ngày 17-6, đoàn tàu VSP đã ra đến Tư Chính, chúng tôi bắt tay ngay vào công việc định vị. Tàu Phú Quý theo phương vị lập tức đo sonar khoanh vùng khu vực đáy biển tương đối bằng phẳng ở độ sâu mực nước khoảng 14m, vị trí dự kiến đặt nhà giàn DK1-A mà tàu Phú Quý lần trước, khi khảo sát sơ bộ, đã thả phao đánh dấu. Tuy nhiên đột xuất phát hiện 3 rãnh sâu có bề rộng tới 12m, sâu khoảng 30m cắt dọc theo hướng Bắc - Nam, nếu xây dựng nhà giàn tại đây, có thể sẽ bất lợi do tác động của các dòng chảy hút. Ban Chỉ huy quyết định tìm một khu vực bằng phẳng lân cận dịch về hướng Ðông. Lúc này trời đã tối, cả Ban Chỉ huy chiến dịch đều sang hết tàu Phú Quý quyết tâm tìm bằng được khu vực hạ đặt nhà giàn trước khi trời sáng. Tuy nhiên, phải đến 10 giờ sáng hôm sau, chúng tôi mới khoanh vùng xong 2 vị trí DK1- A và DK1- B. Tàu Sao Mai 01 lập tức thả neo để khoan xuống tầng đáy san hô lấy mẫu.

 

Tại cảng Dầu khí, trên boong tàu Sao Mai chúng tôi đã hàn 2 dầm thép dạng congson sử dụng thiết bị khoan là xe khoan khảo sát Gaz-59, ống chống sau khi đóng chặt xuống nền san hô, được hàn kẹp vào dầm thép congson. Với những sáng tạo rất đáng ghi nhận của nhóm khảo sát (ông Chiến, ông Tuấn) bằng các phương tiện thô sơ, chúng tôi đã hoàn thành khoan lấy mẫu đất đá nền móng khu vực này. Ðây là những mẫu khảo sát đá ngầm san hô cùng các số liệu về độ sâu, vận tốc và hướng dòng chảy của khu vực các bãi ngầm Trường Sa đầu tiên có được, cung cấp các thông tin quan trọng cho thiết kế và thi công các công trình DK1 sau này.

 

Sau khi hạ đặt khối chân đế theo hướng Bắc nhằm giảm thiểu ảnh hưởng bão theo hướng Ðông Bắc tác động lên nhà giàn, chúng tôi đã sử dụng búa hơi MRBS-1500 đóng các cọc thép D326 xuyên qua 4 trụ thép tới độ sâu ngập trong đá san hô từ -10 đến -12m, tuy nhiên cọc số 4 hướng Tây Bắc chỉ đóng được tới -4m, chúng tôi quyết định sử dụng búa MRBS-2000 có xung lượng lớn hơn, tuy nhiên chỉ sau vài nhát búa, cọc số 4 bị gãy do không chịu được tải trọng búa.

 

Ngay trong khi sự cố xảy ra thì máy bay Trung Quốc đến, đầu tiên bay ở độ cao khoảng 1.000m rồi hạ xuống thấp hơn. Ban Chỉ huy lập tức hội ý, báo cáo về Trung tâm điều độ VSP xin ý kiến lãnh đạo, Thuyền trưởng tàu NPK-547 đề nghị kéo cờ Liên Xô lên. Tuy nhiên, Ban Chỉ huy quyết định tạm dừng thi công, phát loa báo tin cho mọi người chuẩn bị phương án đối phó, nếu máy bay Trung Quốc vẫn tiếp tục bay vòng thấp hơn hoặc phía xa phát hiện tàu Trung Quốc thì sẽ kéo thêm cờ Liên Xô. Toàn bộ chỉ huy và các tàu tuân thủ chặt chẽ các phương án đã vạch sẵn, tuyệt đối phục tùng các mệnh lệnh của Ban Chỉ huy.

 

Tuy nhiên, máy bay Trung Quốc sau khi bay thêm một vòng thì bay thẳng về hướng Bắc, không quay trở lại. Ban Chỉ huy thi công quyết định cắt cọc số 4 ở cao độ +7,5m so với mặt biển, hàn dầm hộp thép từ U300 lồng vào lòng cọc D325, tiếp tục đóng bằng búa MRBS-2000 và chúng tôi đã hạ cọc số 4 xuống được độ sâu -8m trong đá san hô. Sau khi căn chỉnh cao độ, chúng tôi lắp khung nối và khối nhà ở bên trên, lắp đặt hệ thống cầu thang và bến cập tàu rồi tiến hành bơm trám xi măng toàn bộ 4 cọc thép. Chúng tôi bơm thêm khoảng 250 tấn vữa xi măng vào khoang thùng thép hàn sẵn dưới đáy của khối chân đế, tăng cường độ ổn định cho nhà giàn. Với những trăn trở, tìm tòi đầy sáng tạo, đây là mẫu kết cấu Nhà giàn DK1 tối ưu nhất và sau này đã được ứng dụng định hình cho tất cả các nhà giàn DK1 trên Biển Ðông.

 

15 giờ 45 phút ngày 17- 6-1989, cờ đỏ sao vàng khổ lớn do chúng tôi may sẵn 2,5x3,75m đã phần phật bay cao trên vùng trời Tổ quốc Việt Nam giữa trùng khơi Tư Chính - Trường Sa, đánh dấu một cột mốc chủ quyền của Ðất mẹ Việt Nam vĩnh viễn không thể đổi dời cho muôn đời con cháu mai sau.

 

Ðây là công trình DK1 đầu tiên, một bông hoa mãi nở giữa trùng khơi Tổ quốc Trường sa mà chúng tôi dành tưởng niệm 64 Anh hùng Liệt sĩ đã hy sinh anh dũng bảo vệ chủ quyền biển đảo tại Trường Sa ngày 14-3-1988.

 

TP.HCM tháng 6/2014

Ngô Thường San, Đặng Hữu Quý, Nguyễn Trọng Nhưng